Nghị quyết 03/2025/NQ-HĐTP ngày 30/09/2025, về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân
Tử hình vốn được xem là hình phạt nghiêm khắc nhất, nhằm loại bỏ người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội bằng con đường pháp luật. Trước đây, hình phạt này được quy định phổ biến ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội và nhận thức pháp luật của người dân, xu thế chung trên thế giới là thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và nâng cao nhận thức về quyền con người, hình phạt tử hình đang dần được loại bỏ trên toàn thế giới. Đến năm 2024, trên thế giới chỉ còn 55 quốc gia duy trì quy định về hình phạt tử hình và trong số đó chỉ có 15 quốc gia còn thi hành các bản án tử hình trong thực tế. Liên hợp quốc cũng có lời kêu gọi các quốc gia giới hạn việc áp dụng hình phạt tử hình, tiến tới xóa bỏ hình phạt này. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung đó, khi từng bước thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự.
Tử hình ở nước ta chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng trong một số trường hợp cụ thể do BLHS quy định. Sở dĩ đây là hình phạt nghiêm khắc nhất vì nó tước bỏ quyền được sống của người phạm tội, loại bỏ mọi khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội và có tác dụng phòng ngừa tái phạm một cách triệt để.
Đối với Việt Nam, lược sử về việc áp dụng hình phạt tử hình trong pháp luật nước ta qua từng giai đoạn đã thể hiện rõ quá trình phát triển tư duy pháp lý và tinh thần nhân đạo trong hệ thống pháp luật nước ta, cụ thể như sau:
1. Thời phong kiến
– Ngay từ các triều đại đầu tiên như Lý – Trần, pháp luật nước ta đã quy định hình phạt tử hình, chịu ảnh hưởng từ tư tưởng “Ngũ hình” của Trung Hoa: xuy, trượng, đồ, lưu, tử. Quan điểm “mạng đổi mạng” được thể hiện rõ, khi tử hình được áp dụng đối với những tội như phản nghịch, giết vua, giết cha mẹ, cướp của giết người,… Phương thức thi hành án tử hình lúc bấy giờ rất nghiêm khắc, như chém đầu, lăng trì, xử giảo,…
– Đến thời Lê sơ, trong Bộ luật Hồng Đức, tử hình tiếp tục là hình phạt cao nhất. Tuy hà khắc, nhưng Bộ luật Hồng Đức đã thể hiện rõ tinh thần “pháp trị” và bảo vệ đạo lý các chuẩn mực đạo đức Nho giáo trong đời sống xã hội.
– Thời Nguyễn, Hoàng Việt luật lệ (hay Bộ luật Gia Long) tiếp tục áp dụng hình phạt tử hình, với nhiều hình thức khắc nghiệt hơn như trảm kiêu, lục thi,… Mục tiêu chính là duy trì quyền lực tuyệt đối của nhà vua và trật tự xã hội phong kiến.
2. Thời kỳ Pháp thuộc và trước năm 1945
Dưới thời cai trị của thực dân Pháp, hình phạt tử hình vẫn được duy trì nhưng thi hành theo pháp luật nước Pháp, hình thức chủ yếu là xử bắn hoặc dùng máy chém.
Thời kỳ này, tử hình trở thành công cụ đàn áp các phong trào yêu nước và kháng chiến chống Pháp.
3. Giai đoạn sau năm 1945 – 1975
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam bước vào giai đoạn xây dựng Nhà nước mới, phải đối mặt với nhiều khó khăn như: chính quyền non trẻ, thù trong giặc ngoài, an ninh, trật tự xã hội bất ổn, trình độ dân trí thấp,…
Từ năm 1946 – 1954, Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kéo dài 9 năm và kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ cùng Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, dẫn đến việc tạm thời chia cắt đất nước.
Từ năm 1954 – 1975, miền Bắc tiến hành xây dựng Chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục kháng chiến chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Đây là giai đoạn chiến tranh khốc liệt, kinh tế – xã hội gặp nhiều khó khăn.
Trong bối cảnh đó, ở miền Bắc, pháp luật hình sự tiếp tục duy trì và xử bắn vẫn còn là hình thức thi hành án tử hình chính thức; áp dụng cho các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm đảm bảo ổn định chính trị và trật tự xã hội.
Ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm áp dụng chính sách “tố Cộng, diệt Cộng”, trong đó “Tòa án quân sự đặc biệt” chỉ tuyên hai mức án: Tử hình và khổ sai chung thân. Hình phạt tử hình chủ yếu được thi hành bằng máy chém, được tiếp nối từ thời Pháp thuộc. Ngoài “đối tượng” là các chiến sĩ cộng sản, máy chém còn được dùng để xử tử những người bị cáo buộc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhằm củng cố quyền lực, kiểm soát xã hội và đàn áp phong trào cách mạng.
4. Thời kỳ “chuyển mình”
Sau khi chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, bộ máy Nhà nước từng bước được kiện toàn và hệ thống pháp luật bắt đầu được xây dựng, hoàn thiện theo hướng phù hợp với yêu cầu quản lý xã hội trong giai đoạn mới.
Hiến pháp năm 1980 ra đời đã đặt nền tảng cho việc xây dựng pháp luật hình sự trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời là cơ sở pháp lý cho việc ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 – BLHS đầu tiên của nước ta. Bộ luật Hình sự năm 1985 (có hiệu lực thi hành năm 1986), quy định 44 tội danh có áp dụng hình phạt tử hình. Trong giai đoạn này, thi hành án tử hình được thực hiện bằng hình thức xử bắn.
Đến Bộ luật Hình sự năm 1999, số tội danh có áp dụng hình phạt tử hình giảm xuống còn 29 tội danh; và khi sửa đổi, bổ sung năm 2009, chỉ còn 22 tội danh. Trong giai đoạn này, việc thi hành án tử hình vẫn được thực hiện bằng hình thức xử bắn.
Ngày 21/9/2011, Nghị định số 82/2011/NĐ-CP quy định về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc được ban hành, Việt Nam đã chuyển từ việc thi hành án tử hình từ hình thức xử bắn sang tiêm thuốc độc, đây được xem là bước ngoặt thay đổi mang tính nhân đạo trong quá trình thi hành án hình sự.
Khi Bộ luật Hình sự năm 2015 ra đời, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, số tội danh có áp dụng hình phạt tử hình tiếp tục giảm còn 18 tội danh.
Bước tiến quan trọng nhất gần đây là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025, được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2025, có hiệu lực từ 01/7/2025. Luật này đã bãi bỏ hình phạt tử hình đối với 8 tội danh, giảm còn 10 tội danh.
Đây là minh chứng rõ nét cho sự khoan hồng của pháp luật Việt Nam, phù hợp với Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam tham gia, nhấn mạnh việc hạn chế tối đa việc tước đoạt sinh mạng của con người. Các tội danh đã được bãi bỏ bao gồm:
Tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Tội Gián điệp (Điều 110); Tội Phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250); Tội tham ô tài sản (Điều 353); Tội nhận hối lộ (Điều 354); Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421).
Như vậy, hiện nay chỉ còn 10 tội danh có mức hình phạt cao nhất là tử hình; cụ thể:
Tội phản bội Tổ quốc (Điều 108);Tội bạo loạn (Điều 112);Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113);Tội giết người (Điều 123);Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142);Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248);Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251);Tội khủng bố (Điều 299);Tội chống loài người (Điều 422); Tội phạm chiến tranh (Điều 423).
Hiện nay, 10 tội danh còn áp dụng hình phạt tử hình chỉ tập trung vào các hành vi trực tiếp đe dọa an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh, các tội phạm về ma túy, xâm phạm tính mạng của con người.
Cùng với việc giảm số lượng các tội danh còn áp dụng hình phạt tử hình. Theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, HĐTP TANDTC còn ban hành nghị quyết 03/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025; có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2025. Theo nghị quyết này, có một số bị cáo đã bị xử phạt tử hình nhưng sẽ được chuyển thành tù chung thân nếu người đó đã bị kết án tử hình trước ngày 01/7/2025 mà chưa thi hành án:
– Người bị mắc bệnh Ung thư giai đoạn cuối;
– Bị kết án tử hình về một trong 08 tội danh đã được BLHS 2025 bãi bỏ hình phạt tử hình;
– Bị kết án tử hình về tội “Sản xuất trái phép chất ma túy” (Điều 248) hoặc Tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Điều 251) nếu thuộc một trong các trường hợp:
+ Khối lượng, thế tích chất ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt bằng hoặc thấp hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất được quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của BLHS;
+ Khối lượng, thế tích chất ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất được quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của BLHS mà người phạm tội không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 2 tình tiết tăng nặng TNHS trở lên.
Việc hiện nay BLHS 2025 chỉ còn quy định 10 tội danh có mức hình phạt cao nhất là tử hình; cũng như HĐTP TANDTC ban hành Nghị quyết 03/2025/NQ-HĐTP ngày 30/09/2025 hướng dẫn áp dụng một số quy định về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân, thể hiện Nhà nước ta ngày càng tiến dần đến việc xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự; một Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Văn phòng Luật sư Chợ Lớn trân trọng đăng tải toàn văn Nghị quyết 03/2025/NQ-HĐTP ngày 30/09/2025 để quý bạn đọc, Luật sư đồng nghiệp và người quan tâm tham khảo, nghiên cứu và áp dụng thống nhất trong thực tiễn.
NGHỊ QUYẾT
HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CHUYỂN HÌNH PHẠT TỬ HÌNH THÀNH TÙ CHUNG THÂN
Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15;
Căn cứ Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15;
Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy định về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15;
Sau khi có ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị quyết này hướng dẫn áp dụng một số quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người bị kết án tử hình trước ngày 01/7/2025 mà chưa thi hành án.
Điều 2. Trường hợp chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân
Người bị kết án tử hình trước ngày 01/7/2025 mà chưa thi hành án thì được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Bị mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự);
2. Bị kết án tử hình về một trong các tội: Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Tội gián điệp (Điều 110); Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250); Tội tham ô tài sản (Điều 353); Tội nhận hối lộ (Điều 354) và Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421);
3. Bị kết án tử hình về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt bằng hoặc thấp hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;
b) Khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự mà người phạm tội không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên.
Điều 3. Về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự
1. Người bị kết án tử hình mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối được xem xét, chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân phải có kết luận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp chuyên sâu theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh và văn bản hướng dẫn thi hành xác định họ mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối. Kết luận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tính từ thời điểm ban hành đến thời điểm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định là không quá 06 tháng.
2. Sau khi nhận được văn bản của trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại tạm giam Công an cấp tỉnh về việc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự hoặc trong quá trình rà soát, phát hiện người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự, Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải lập danh sách người được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân và gửi danh sách này cùng hồ sơ vụ án, tài liệu kèm theo đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
3. Ngay sau khi nhận được danh sách người được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cùng hồ sơ vụ án, tài liệu kèm theo và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Điều 4. về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15
1. Người bị kết án tử hình về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) được chuyển thành tù chung thân nếu trong bản án xác định khối lượng, thể tích chất ma túy như sau:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng bằng hoặc thấp hơn 30 kilôgam;
b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng bằng hoặc thấp hơn 03 kilôgam;
c) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng bằng hoặc thấp hơn 09 kilôgam;
d) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích bằng hoặc thấp hơn 22 lít;
đ) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm d khoản này.
2. Người bị kết án tử hình về Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) được chuyển thành tù chung thân nếu trong bản án xác định khối lượng, thể tích chất ma túy như sau:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng bằng hoặc thấp hơn 30 kilôgam;
b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng bằng hoặc thấp hơn 03 kilôgam;
c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng bằng hoặc thấp hơn 150 kilôgam;
d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng bằng hoặc thấp hơn 1.200 kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng bằng hoặc thấp hơn 300 kilôgam;
e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng bằng hoặc thấp hơn 09 kilôgam;
g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích bằng hoặc thấp hơn 22 lít;
h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
Điều 5. Về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15
Người bị kết án tử hình về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248), Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) được chuyển thành tù chung thân nếu trong bản án xác định khối lượng, thể tích chất ma túy lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định tại Điều 4 của Nghị quyết này và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Trong bản án không nhận định họ là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy. Người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy được xác định như sau:
a) Người chủ mưu là người thành lập, rủ rê hoặc lôi kéo nhóm đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội;
b) Người cầm đầu là người khởi xướng chủ trương, đưa ra ý tưởng, kế hoạch hoặc phương hướng hoạt động của nhóm đồng phạm;
c) Người chỉ huy là người phân công, giao trách nhiệm, đôn đốc, trực tiếp chỉ đạo hoặc điều hành hoạt động của nhóm đồng phạm;
d) Cũng được coi là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy đối với người có hành vi tổ chức việc thực hiện tội phạm.
2. Trong bản án xác định họ không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp này, Tòa án chỉ căn cứ vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự mà không căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, quyết định việc chuyển hình phạt.
Điều 6. Xem xét, quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân trong một số trường hợp cụ thể
1. Khi xem xét, quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với trường hợp hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết này, Tòa án căn cứ vào bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm và giải quyết như sau:
a) Trường hợp bản án sơ thẩm nhận định, đánh giá người bị kết án tử hình là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết này nhưng bản án phúc thẩm không nhận định hoặc có nhận định người bị kết án tử hình là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy và giữ nguyên hình phạt tử hình thì không chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân;
b) Trường hợp bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm đều không nhận định, đánh giá người bị kết án tử hình là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy mà chỉ căn cứ vào khối lượng, thể tích chất ma túy, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt thì chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu họ không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên;
c) Trường hợp bản án không nhận định người bị kết án tử hình là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy mà nhận định họ là người tổ chức hoặc đã thực hiện một hoặc nhiều hành vi theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết này thì không chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
2. Trường hợp vụ án có đồng phạm nhưng chỉ 01 bị cáo bị đưa ra xét xử và bị kết án tử hình về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) thì Tòa án chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu bản án không nhận định, đánh giá người bị kết án tử hình là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên.
3. Trường hợp vụ án không có đồng phạm và bị cáo bị kết án tử hình về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) thì Tòa án chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu họ không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên.
4. Trường hợp người phạm tội về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) 02 lần trở lên nhưng bị xét xử trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình trong đó có ít nhất 01 lần thực hiện tội phạm với vai trò là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy thì Tòa án không chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
5. Trường hợp người bị kết án về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) tại nhiều bản án, trong đó bản án tử hình nhận định họ không phải là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy, các bản án khác không phải bản án tử hình nhận định họ là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy thì Tòa án chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Điều 7. Rà soát, lập danh sách đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15
Việc rà soát, lập danh sách người bị kết án tử hình được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 được thực hiện như sau:
1. Trường hợp Tòa án đã xét xử sơ thẩm đang quản lý hồ sơ vụ án thì rà soát, lập danh sách người bị kết án tử hình được chuyển thành tù chung thân và gửi danh sách này cùng hồ sơ vụ án, tài liệu kèm theo (nếu có) đến Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập danh sách;
2. Trường hợp Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đang quản lý hồ sơ vụ án, nếu bản án phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt tử hình thì chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm để rà soát, lập danh sách người bị kết án tử hình được chuyển thành tù chung thân và gửi danh sách này cùng hồ sơ vụ án, tài liệu kèm theo (nếu có) đến Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập danh sách;
3. Trường hợp Tòa án quân sự Trung ương đang quản lý hồ sơ vụ án thì rà soát, lập danh sách người bị kết án tử hình được chuyển thành tù chung thân và gửi danh sách này cùng hồ sơ vụ án, tài liệu kèm theo (nếu có) đến Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập danh sách;
4. Trường hợp sau khi nhận được danh sách người bị kết án tử hình được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cùng hồ sơ vụ án, tài liệu kèm theo (nếu có) do Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Văn phòng Chủ tịch nước chuyển đến thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Điều 8. Xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân như sau:
a) Trường hợp người bị kết án không được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản cho cơ quan lập danh sách, cơ quan khác có liên quan (nếu có);
b) Trường hợp người bị kết án được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
2. Quyết định tại điểm b khoản 1 Điều này được gửi cho Văn phòng Chủ tịch nước, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm, trại tạm giam nơi đang giam giữ người bị kết án và người bị kết án.
3. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án hình phạt tù chung thân đối với người được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Thời gian người bị kết án tử hình bị tạm giam trước khi được chuyển thành tù chung thân được tính vào thời hạn chấp hành án phạt tù.
Điều 9. Hiệu lực thi hành
Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 30 tháng 9 năm 2025 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2025./.
Ngày đăng: 17/11/2025

